suy nghĩ về nhân vật ông hai trong truyện ngắn làng

Ông Hai trong Làng của Kim Lân là nhân vật được viết với tư cách là một lão nông yêu quê hương, đất nước. Vì vậy, trong bài văn viết về nhân vật ông Hai trong tác phẩm này, các em cần nêu vấn đề này thông qua những giằng xé, giằng xé nội tâm của ông, từ đó làm nổi bật phẩm chất cao quý của ông.

bài viết liên quan

Bạn đang xem: suy nghĩ về nhân vật ông hai trong truyện ngắn làng

  • Hãy kể về nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân
  • Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong Làng của Kim Lân
  • Dàn ý Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng
  • Nêu suy nghĩ của em về truyện Làng của Kim Lân
  • Tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân

Mục lục bài viết:
1. Dàn ý
2. Bài mẫu số 1
3. Bài mẫu số 2
4. Bài mẫu số 3
5. Bài mẫu số 4
6. Bài mẫu số 5

Đề tài: Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong Làng của Kim Lân

cam nghi ve nhan vat ong hai trong tac pham lang cua kim lan

5 bài văn mẫu Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện Làng của Kim Lân

I. Dàn ý Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong Làng của Kim Lân

1. Mở bài

Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai
Truyện ngắn Làng là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân
– Ông Hai là nhân vật trung tâm của tác phẩm

2. Cơ thể

Một. Ông Hai có tình làng sâu nặng
– Hay khoe về làng với giọng “hào hứng và sôi nổi lạ thường”.
– Tự hào về truyền thống kháng chiến, vẻ đẹp của làng quê.
– Luôn nhớ về làng “Chà! Ông già nhớ làng này quá”…(Còn tiếp)

>> Xem chi tiết bài mẫu Dàn ý Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân tại đây.

II. bài văn mẫu cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

1. Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong Làng của Kim Lân, bài văn mẫu số 1:

Ông Hải cũng như bao người nông dân miền quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê. Ông yêu và tự hào về làng Chợ Dầu và thường khoe khoang về nó một cách hào hứng, sôi nổi. Ở nơi tản cư, ông luôn nhớ về làng quê, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm Chợ Dầu.

Tình yêu làng của ông càng được thể hiện sâu sắc, cảm động hơn trong hoàn cảnh đầy thử thách. Kim Lân đã đặt nhân vật vào một tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu cảm xúc của nhân vật. Đó là tin làng chợ Dầu bị giặc lập. Ra khỏi phòng thông tin, phấn khởi vui mừng trước tin vui kháng chiến, gặp đồng bào tản cư, nghe tên làng, ông Hai quay lại, lắp bắp hỏi, mong được nghe tin vui. . , không ngờ biết tin dữ: “Cả làng Việt theo Tây”. Cái tin đột ngột vừa lọt vào tai khiến ông bàng hoàng, đau đớn: “Cổ ông cụ như tắc hẳn, da mặt tê dại, ông cụ lặng đi như không thở được, phải một lúc lâu sau ông mới có thể thở được. Anh nuốt xuống một thứ gì đó mắc trong cổ. Anh hỏi, giọng lạc hẳn đi, “để hy vọng rằng những gì anh vừa nghe không phải là sự thật. Trước sự khẳng định chắc chắn của những người sơ tán, anh ta đã cố gắng trốn thoát. Tiếng chửi vang vọng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái: “Cha mẹ chúng mày, tổ tiên chúng nó đói rách, ăn cắp, ăn cắp mà vẫn thương dân, như bọn Việt gian bán nước, hãy cho mỗi đứa một nhát”.

Về đến nhà, ông ngao ngán “nằm trên giường” nhìn các con bật khóc: “Mấy đứa nó cũng là con làng Việt sao? Ông căm thù những kẻ theo Tây phản làng, ông nắm chặt tay rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm manh áo gì trong mồm mà đi làm cái lũ Việt gian giả dối bán nước để nhục nhã thế này”. Niềm tin và sự nghi ngờ giằng xé trong anh. Ông kiểm tra trong tâm từng người, thấy họ đều có tinh thần “không đời nào cam tâm làm chuyện nhục nhã như vậy”. Ông đau đớn nghĩ đến cảnh “người ta chán ghét, người ta căm ghét giống Việt gian bán nước”. Mấy ngày liền anh không dám đi đâu, “chỉ ở nhà nghe tình lang quân”, lúc nào cũng nghĩ ngợi lung tung. mọi người đang chú ý, nói về làng của họ. Nỗi ám ảnh, dằn vặt, nặng nề biến thành nỗi sợ hãi thường trực trong anh. Anh đau đớn, tủi hổ như thể mình là người có lỗi…

cam nghi ve nhan vat ong hai trong truyen ngan lang

Viết đoạn văn ngắn nói về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Nhất làng

Hoàn cảnh của anh ngày càng trở nên bế tắc và tuyệt vọng khi bà chủ nhà định đuổi gia đình anh đi với lý do không chứa được người làng Việt. Vừa nghĩ đến con đường sống, ông thoáng nghĩ đến việc trở về làng nhưng rồi lại gạt ngay vì “về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ là “ăn năn trở về làm nô lệ cho Tây”. .

Tình yêu làng lúc này đã lớn thành lòng yêu nước bởi dù tình yêu, niềm tin và lòng tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin với Bác Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt. Ông Hai lựa chọn đau đớn và dứt khoát: “Làng thương thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù!”. Dù xác định là vậy nhưng anh vẫn không thể nguôi ngoai tình cảm với quê hương. Chính vì vậy anh càng cảm thấy buồn và đau hơn...

Trong tâm trạng dồn nén, bế tắc ấy, anh chỉ tìm được niềm an ủi khi tâm sự với đứa con trai bé bỏng. Nói chuyện với con thực ra là bạn đang trút bầu tâm sự. Anh hỏi tôi những câu tôi đã biết trước: “Nhà anh ở đâu?”, “Thế anh ủng hộ ai?”. Câu nói của người con vang vọng trong ông, thiêng liêng và giản dị: “Nhà cháu ở làng Chợ Dầu”, “Bác Hồ Chí Minh muôn năm!”. Những điều này ông đã biết, ông vẫn muốn ghi nhớ với con mình. Bác mong “anh em, đồng chí phải biết tình cha con, tình cha con là thế, không bao giờ dám mắc lỗi, chết cũng không bao giờ dám mắc lỗi”. Những suy nghĩ của anh giống như những lời thề trung thành. Anh xúc động, nước mắt "chảy dài trên má". Tấm lòng của ông với làng, với nước sâu nặng, thiêng liêng. Dù cho cả làng Việt Nam gian dối, ông vẫn trung thành với kháng chiến và Bác Hồ.

May thay, tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu đã được đính chính. Anh Hai mừng như sống lại. Ông ăn mặc chỉnh tề đi cùng người báo tin, khi trở về “khuôn mặt buồn bã mọi ngày bỗng tươi tỉnh hẳn lên”. Anh mua cho con trai mình những chiếc bánh rán đường và vội vã đi khoe với mọi người. Đi đâu cũng chỉ nói mấy câu "Tây nó đốt nhà em rồi! Đốt hết! Đốt hết! Chủ tịch thôn em mới lên đây đính chính. Đính chính cái tin làng chợ Dầu là Việt Nam mà theo Tây. Dối trá!Lách luật hết!Cố ý sai hết.” “Ông cứ múa đi khoe với mọi người”, ông khoe nhà đã bị đốt sạch, bằng chứng là làng ông không theo giặc. Bởi lẽ, trong vụ đốt nhà mình, là sự sống lại niềm vinh dự của làng chợ Dầu, của cuộc kháng chiến anh dũng, một niềm vui lạ lùng, thể hiện một cách đau đớn và cảm động lòng yêu làng, yêu nước, tinh thần nghĩa hiệp. sự hy sinh vì cách mạng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.

Cách miêu tả chân thực, sinh động, những đoạn đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm đa dạng, tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn, căng thẳng, xô đẩy, bức xúc đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của công trình này. thành công của truyện, đồng thời thể hiện sự hiểu biết và gắn bó sâu sắc của nhà văn với nông dân và cuộc kháng chiến của đất nước.

Qua nhân vật ông Hai, ta hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống giặc Pháp: Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.

2. Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm ngắn Làng văn mẫu số 2 của Kim Lân:

Kim Lân là nhà văn có sở trường viết truyện ngắn về người nông dân. Truyện ngắn "Làng" được sáng tác năm 1948 trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện viết về vẻ đẹp của ông Hai với tình yêu làng da diết, niềm tin vào Đảng, vào cách mạng và lòng tự trọng coi danh dự của làng hơn của cải vật chất.

Đọc truyện ngắn "Làng", người đọc rất ấn tượng với nhân vật ông Hai là một người hiền lành, cần cù, chăm chỉ, chất phác nhưng tình yêu làng Chợ Dầu luôn cháy bỏng mãnh liệt. Khi chiến tranh xảy ra, anh phải đi sơ tán. “Chuyển sang âu cũng là phản kháng”. Anh nhớ làng, khoe làng giàu đẹp: nhà ngói san sát, đông đúc. Anh sung sướng, tự hào, hãnh diện với cả làng. Anh ta thậm chí còn khoe khoang về sinh kế của thống đốc mà không nhận ra rằng thống đốc là kẻ thù của mình. Ánh sáng của cách mạng đã soi rọi vào cuộc đời đen tối của anh để anh biết kẻ thù của mình là ai để anh không còn khoác lác nữa. Ông đã từng tham gia xây dựng các công trình kháng chiến: đào đường, đắp đê, đào giao thông hào... những công việc nặng nhọc, nhưng ông tham gia với tinh thần nhiệt tình, vui vẻ và trách nhiệm. Tình yêu làng của ông Hai không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn thể hiện bằng hành động cụ thể, người nông dân ấy sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Tình làng đã hòa với tình đất nước. Anh Hải có thói quen đến phòng thông tin là mừng rỡ khi nghe tin ta thắng, dù nhỏ nhưng với suy nghĩ “thành tích nhỏ sao thằng Tây không bước sớm”. Những suy nghĩ đó của người nông dân về giặc khi họ còn rất bình dị nhưng nó cũng thể hiện một niềm tin nhất định vào sự thành công của cách mạng. Đó là nhận thức tư tưởng mới của ông Hai khi có ánh sáng cách mạng.

cam nhan ve nhan vat ong hai

Viết bài văn trình bày suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân ngắn gọn

Nhà văn đã khéo léo đưa vào tình huống truyện bất ngờ được đẩy lên cao trào khi nhân vật bộc lộ rõ ​​một loạt diễn biến tâm lý. Cái tin làng chợ Dầu theo Tây như “gáo nước lạnh” dập tắt ngọn lửa yêu làng trong lòng ông Hai bấy lâu nay. Cái tin ập đến bất ngờ và đột ngột khiến anh choáng váng, “ngừng thở” như thể mình đã nghe nhầm. Nhưng rồi nghe đến tên người làng khiến ông Hai lúng túng. Câu nói "Ha, nắng quá, về đi!" là cái cớ để anh trốn tránh mọi người ra về. Ngòi bút của nhà văn hướng vào việc miêu tả hình ảnh ông Hai đi trên phố với dáng đi nhanh nhẹn, mặt cúi gằm vì trong lòng xấu hổ, tủi nhục. Nước mắt rơi khi nhìn thấy em với suy nghĩ: "Họ cũng bị người ta từ chối sao?", "Họ đang giữ ai. Họ buôn bán với ai?" Dòng độc thoại nội tâm kết hợp với câu hỏi tu từ thể hiện nỗi lo lắng của ông Hai cho con, cho dân làng Chợ Dầu. Và rồi bao lo lắng, xấu hổ cũng biến thành sự giận dữ, chửi bới nhằm vào bọn lừa đảo Việt Nam. Hai chữ Việt Nam đã trở thành vết nhơ, nỗi nhục khó gột rửa trong lòng ông Hai khiến ai cũng phải căm ghét. Chính trong lúc đau thương ấy, ông Hai đã hướng về những người dân ở lại làng với niềm xác tín “quyết sống chết với giặc” nhưng rồi cái tin làng Chợ Dầu theo Tây đã làm vị ấy nghi ngờ "Không có lửa làm sao có khói?" Anh đã từng có ý định trở về làng nhưng không trở lại. “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải ghét”. Là một người đã từng yêu làng đến mức cháy bỏng mãnh liệt, nhưng giờ phải nói ra nỗi hận làng chắc hẳn trong lòng ông đau đớn vô cùng. Ngòi bút của nhà văn tập trung miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật, khắc hoạ sinh động tâm trạng nhân vật ông Hai với nỗi tủi hổ, tủi nhục, đau đớn, lo lắng, căm giận khi nghe tin làng đã theo Tây.

Để nguôi ngoai nỗi đau, ông lại nói với con: “Con có muốn về làng chợ Dầu không, con nuôi ai?”. Và người cha nhận được câu trả lời: “Tôi muốn về làng. Tôi sẽ ủng hộ Hồ Chí Minh trong nhiều năm.” Đoạn đối thoại tuy ngắn nhưng câu hỏi và câu trả lời đều xoay quanh chuyện làng Chợ Dầu. Có thể nói cuộc trò chuyện chỉ là cái cớ để ông Hai bộc lộ tình cảm của mình, mặc dù nói là ghét làng nhưng trong lòng ông vẫn nhớ nhung, muốn trở về làng. Tình yêu ấy dù có lúc đổi thay, nhưng niềm tin vào Bác vẫn bền chặt, thiêng liêng chưa bao giờ thay đổi. Đó chính là sự chuyển biến mới trong nhận thức tư tưởng, tình cảm của ông Hai hay của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Có thể nói, từ khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây Ông Hai, như sống trong những tháng ngày tăm tối, tuyệt vọng. Ngòi bút miêu tả diễn biến tâm lí của nhà văn như đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật khi cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, có khi đau đớn đến căm giận.

Và rồi niềm tin của ông Hải đã thành hiện thực khi ông nhận được tin cải chính. Lòng kiêu hãnh của ông lại trở về thói khoe tin làng không theo Tây và khoe cả nhà bị Tây đốt. Trong cái vẻ đẹp khoe khoang ấy, ông Hai nhận ra lòng tự trọng, coi danh dự của làng hơn là tài sản của bản thân.

Đoạn trích không chỉ thành công về mặt nội dung mà còn là thành công về mặt nghệ thuật. Xây dựng cốt truyện tập trung vào việc sơ tán người dân. Tạo tình huống truyện bất ngờ, độc đáo. Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật qua hình thức ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm. Câu nói mang đậm tính khẩu ngữ của người dân Bắc Bộ. Đoạn trích viết về vẻ đẹp của nhân vật ông Hai là người có tình yêu làng tha thiết và có lòng tự trọng. . Với nhà văn Kim Lân, người đã sống và làm việc gần gũi để hiểu đời sống tâm lý người nông dân thì nhà văn mới thấy được sâu xa trong vẻ đẹp mộc mạc, giản dị ấy của ông Hai hay tấm lòng yêu làng, yêu nước của người nông dân. Họ là bộ đội chủ lực của cuộc kháng chiến, chính điều đó đã làm nên thành công của tác phẩm, của nhà văn mà các nhà văn khác cùng thời chưa làm được.

Đọc xong truyện ngắn Làng, tâm hồn và vẻ đẹp của nhân vật ông Hai và người nông dân đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Càng biết nhiều về họ, chúng ta càng yêu quý và ngưỡng mộ họ hơn. Nhìn lại những người nông dân ngày nay vẫn phát huy truyền thống yêu làng, yêu nước xây dựng quê hương trở thành làng giàu đẹp, nông thôn mới.

3. Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng văn mẫu số 3 của Kim Lân:

Tình yêu làng, yêu nước, yêu quê hương đất nước vốn là mảng đề tài lớn của văn học dân tộc, đặc biệt là văn học yêu nước phát triển trong các thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm gian khổ. của kẻ thù. Viết về đề tài yêu nước, nhà văn Kim Lân trong truyện ngắn "Làng" đã khắc họa thành công nhân vật ông Hai. Một công dân hoàn toàn trung thành với đất nước và gắn bó với nơi “chôn rau cắt rốn” của mình.

Ông Hai là người yêu làng, luôn tự hào về làng của mình. Trong một dịp tình cờ, ông nghe tin làng chợ Dầu thân yêu của mình đã trở thành người Việt gian theo Pháp, phản bội kháng chiến, phản bội Bác Hồ. Khi hay tin làng chợ Dầu theo giặc: “Cổ cụ cụ lặng hẳn đi, da mặt tê tái. Ông già im lặng, như thể điều đó là không thể. Một lúc sau, anh ấy căng thẳng, nuốt một thứ gì đó mắc kẹt trong cổ họng… giọng nói của anh ấy hoàn toàn lạc đi.” Chỉ bằng một câu ngắn gọn, nhà Kim Lân đã cụ thể hóa được tâm trạng sững sờ, ngỡ ngàng cao độ, hoảng sợ khi nghe tin đột ngột. Không có gì ngạc nhiên khi ông luôn yêu mến và tự hào về làng Chợ Dầu: bà con lối xóm, cây lúa ngoài ruộng - ai nấy, cái gì cũng tốt, vậy mà nay sự việc đã xảy ra đến mức “Việt Nam thời xa chủ tịch”. ."

Trở về nhà thấy các con chơi với nhau đáng thương, anh Hải ném mình xuống giường “ứa nước mắt”. Đó là những giọt nước mắt của nỗi đau và nỗi buồn. Anh đau đớn và buồn bã vì nghĩ đến sự khinh miệt và hắt hủi của mọi người. Rồi người ta đuổi cả lũ trẻ làng Việt đi. Họ nhỏ bé, đáng thương biết bao. Đó không phải là đau đớn, đáng thương, buồn sao? Càng nghĩ, ông càng căm giận những kẻ bán nước cho giặc làm nhục làng, làm hoen ố danh dự của làng, trong đó có ông. Ông coi họ là “thú bay”, không cùng phường, cùng hội, thậm chí không cùng người! Rít lên trong cổ họng, hắn chửi: “Mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào miệng mà đi làm cái thằng Việt gian bán nước nhục nhã này”. Ở đây, Kim Lân đã dùng ngôn ngữ độc thoại để bộc lộ tâm trạng nhân vật.

Hình dung, tưởng tượng cảnh người dân tẩy chay, anh không khỏi lo lắng: “Biết làm ăn thế nào đây? Ai chứa ai? Buôn bán cho ai…?” Lo lắng biến thành sợ hãi Anh giận chị vô cớ Anh thở dài bất an Tay chân bủn rủn Anh nín thở lắng nghe Anh nằm bất động Hóa ra anh sợ bà chủ nhà khó tính, người biết mọi chuyện sẽ "không đâu vào đâu". Sau đó, anh không dám ra khỏi nhà, không đi đâu, lúc nào cũng nghĩ đến "chuyện ấy". Đám đông tụ tập anh cũng để ý. Tiếng cười nói của dăm bảy người từ xa, anh cũng Ngập ngừng, khi nghe đến những từ “Tây”, “Campuchia”, “Việt gian”, ông lui vào góc nhà, thở dài thườn thượt: “Thôi, lại thế thôi”. Kim Lân đã thể hiện rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề thành nỗi sợ hãi trong lòng ông Hai.

Xem thêm: ở nhiệt độ thường kim loại al tác dụng được với dung dịch

trinh bay suy nghi ve nhan vat ong hai trong truyen lang

Top bài văn Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim lân siêu hay

Cuối cùng, tâm trạng của ông Hai được bộc lộ trong một hoàn cảnh thử thách gay gắt và quyết liệt hơn: Làng Chợ Dầu theo giặc, làng Chợ Dầu vắng người. Trước tình hình đó, tâm trạng ông Hai trở nên u ám, tuyệt vọng và bế tắc. Ông Hai đã phải trải qua cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt, liệu có trở lại làng chợ Dầu hay không. Nếu không về làng Chợ Dầu, Bác không biết đi đâu, nhưng khi về làng Bác lại “Về bây giờ là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”. Cuối cùng, ông Hai đã có một quyết định dứt khoát: “Làng thì thương thật, nhưng làng theo Tây thì phải ghét”. Quyết định, tâm trạng và thái độ của ông Hai cho thấy nỗi lo cơm áo dù nặng nề đến đâu cũng không đáng sợ bằng nỗi nhục bán nước. Quốc gia.

Khi đích thân chủ tịch xã lên gặp ông Hải để tường trình sự việc: “Hóa ra tất cả là sai mục đích”. Lúc đó niềm vui trong lòng ông Hải là vô bờ bến. Anh mua quà cho lũ trẻ. Anh đi đến đầu làng cuối xóm, hối hả chạy ngược chạy xuôi, hết nhà này đến nhà khác hả hê thông báo: "Tây nó đốt nhà tao rồi. Cháy nhẵn". Ông nói về cái mất giống như khi ông khoe giàu, khoe làng vì đó là lời đính chính hùng hồn nhất để bảo vệ danh dự cho ông, cho làng Chợ Dầu.

Vì vậy, khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, diễn biến tâm trạng của ông Hai vô cùng phức tạp, ông đau khổ, tuyệt vọng, rồi đấu tranh quyết liệt giữa việc nghĩ về làng hay không về làng. Nhà văn Kim Lân đã đặt ông Hai vào một tình huống có thể thấy là vô cùng éo le, nhưng sau tình huống ấy, tính cách, con người của ông Hai cũng được bộc lộ một cách rõ nét và đầy đủ. Ông đặt lòng yêu nước lên hàng đầu, tuy yêu quê hương nhưng ông một lòng trung thành với Tổ quốc và với Bác Hồ. Qua nhân vật ông Hai, ta cũng thấy Kim Lân hiểu sâu sắc con người, thế giới tinh thần của con người, đặc biệt là dân làng.

4. Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân của HSG văn mẫu số 4:

Ai đó đã từng nói: “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người”. - Tuy con người và quê hương cách nhau về địa lý nhưng tình cảm thì không. những gì ngăn cách. Đó là chân lý của cuộc sống và cũng là chân lý của văn học. Cho đến khi đọc truyện ngắn "Làng" của nhà văn Kim Lân - một nhà văn uyên bác, gắn bó với cuộc sống nông thôn, dường như ta càng cảm nhận sâu sắc hơn chân lý ấy. Thông qua hình tượng nhân vật ông Hai, nhà văn đã gửi gắm vào tác phẩm những thông điệp, tư tưởng mới: tình yêu làng thống nhất với tình yêu đất nước.

Nhân vật ông Hai là điển hình cho người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Với ông, tình yêu làng gắn liền với cuộc kháng chiến của cả dân tộc. Mọi vui buồn của ông đều bắt nguồn từ chuyện làng, tin tức cách mạng. Thói khoe làng thể hiện lòng yêu mến, tự hào của lão nông đối với làng Chợ Dầu: khoe làng có chòi đài có lũy tre, nhà ngói san sát, khoe đường làng lát đá xanh.. .Tháng tám, ông khoe về tinh thần kháng chiến ở làng quê với niềm tự hào vô bờ bến. Yêu làng như thế nên khi phải rời làng đi tản cư, ông lão nhớ làng lắm, nhớ những ngày đào hầm, đắp đê, nhớ những khóa bình dân học vụ… người chôn rau cắt rốn. dây, ông Hai mang trong mình nỗi nhớ da diết.

Nhưng trớ trêu thay, ngôi làng mà ông cụ rất tự hào, khoe khoang khắp nơi lại bị đồn thổi là làng Việt giả. Lúc đầu nghe tin giặc vào làng, ông lão giật mình, lắp bắp hỏi: "Nó vào làng chợ Dầu để khủng bố à? Vậy giết được bao nhiêu trận?" Câu nói ấy cho thấy ý nghĩ về làng luôn thường trực trong đầu ông, nhưng rồi “cổ ông thắt lại, mặt tê tái”. Cảm giác choáng váng, choáng váng, tê dại khắp người và đau đớn tột cùng khiến anh “câm nín, như không thở được”. Có thể nói nhà văn Kim Lân đã miêu tả tâm trạng nhân vật rất tinh tế. Càng yêu làng bây giờ, ông Hai càng đau đớn và xấu hổ. Anh cứ "cúi đầu xuống". Phải chăng điều đau đớn nhất lúc này là ông không thể nhận mình là người con của làng chợ Dầu?

trinh bay cam nghi ve nhan vat ong hai trong truyen ngan lang

Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện Làng văn mẫu chọn lọc

Rời quán, trở về nhà, dáng vẻ ông lão thật đáng thương, ông rít lên vì không biết trút nỗi lòng vào đâu: “Chúng nó bay ăn miếng cơm hay miếng gì trong miệng mà đi làm trò đểu giả. Việt gian bán nước nhục nhã thế này”. Ta có thể thấy suy nghĩ, tâm trạng của ông chủ yếu được thể hiện qua hành động, lời nói và miêu tả bên ngoài, có yếu tố độc thoại nội tâm nhưng không nhiều, hoàn toàn phù hợp với ông. Hai- một lão nông thôn quê.

Nỗi đau dường như đã biến thành nỗi sợ hãi. Đầu óc anh bị ám ảnh đến mức suốt ngày chỉ dám quanh quẩn trong nhà, anh trở nên nhạy cảm với những gì mà anh cho là có liên quan đến tin xấu: “Cứ nghe Tây, Việt, ngụy trang... là anh trốn vào một xó nào đó. nhà rồi im lặng". Khi bị bà chủ đuổi, lòng anh giằng xé với ý nghĩ: "hay là về làng". Nước mất thì nhà tan", về làng nghĩa là cho vùng lên kháng chiến, bỏ cụ Hồ…”.Nhận ra điều đó, dù rất đau đớn, Người vẫn quyết định: “Làng thì thương lắm, nhưng làng theo Tây rồi chúng nó phải thù”. là một quyết định táo bạo, tiến bộ của người nông dân, tình cảm của họ đã vượt qua lũy tre làng đến với dân tộc và cách mạng.

Những ngày sau đó, không có hay chính xác hơn là anh không biết tâm sự cùng ai, đành nói với đứa con nhỏ để vơi đi nỗi lòng. Nhưng điều đặc biệt ở đây là đoạn nói về làng Chợ Dầu - cái làng mà ông “thù” nhau. Có lẽ tâm trí anh vẫn còn lưu giữ hình ảnh của một ngôi làng xinh đẹp mà trái tim anh đã từng yêu tha thiết? Lời nói nhỏ hay tấm lòng của ông với làng, với nước?

Cho đến khi biết tin làng chợ Đầu Việt được chấn chỉnh, ông Hai vô cùng phấn khởi, ông đi khoe khắp nơi về làng và ngôi nhà bị cháy của mình. Chi tiết tưởng chừng vô lý nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt. Đó là bằng chứng hùng hồn nhất về cuộc chiến đấu ngoan cường của làng mình. Ông Hai đã quên đi của cải vật chất của riêng mình để hòa vào niềm vui chung của dân tộc. Giờ đây niềm tin vào làng kháng chiến của ông càng mạnh mẽ và vững vàng hơn. Và tình làng - tình cảm truyền thống của người nông dân Việt Nam lại vang lên trong câu hát:

“Ngôi làng của chúng tôi có một phong cảnh đáng yêu
Dân như rồng”.

Nhưng chỉ ở người nông dân sau cách mạng tháng Tám, tình yêu làng mới sâu sắc, thống nhất với tình yêu đất nước, niềm tin vào lãnh tụ và ủng hộ cách mạng.

Nhân vật ông Hai để lại ấn tượng trong lòng người đọc bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống: ở nơi tản cư, ông Hai nghe tin làng mình theo giặc. Chính tình huống này đã bộc lộ nội tâm của anh. Tình yêu làng bông trở nên mâu thuẫn với tình yêu đất nước, một thứ tình cảm là cội nguồn, một tình yêu mới chớm nở nhưng sâu đậm đến nỗi anh không thể dứt ra được. Cũng từ đây, những suy nghĩ đa chiều được miêu tả rõ nét, góp phần thể hiện chủ đề của truyện.

Truyện ngắn “Làng” đã khắc họa thành công tình yêu làng, lòng yêu nước mộc mạc chân thành mà sâu sắc của những người nông dân. Tác phẩm cũng thể hiện sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của quần chúng cách mạng, thể hiện sức sáng tạo của một nhà văn tài hoa.

5. Cảm nghĩ về nhân vật ông Hai trong Làng của Kim Lân, bài văn mẫu số 5:

Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố mang đến một chú Dậu với sức sống mãnh liệt của người nông dân thì Nam Cao lại mang đến một Lão Hạc đầy tự trọng và tình thương con vô bờ bến, v.v.. Trong Tháng Tám, Kim Lân - nhà văn nông dân - mang đến cho người đọc hình ảnh người nông dân trong thời kỳ đổi mới. Đó chính là nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng" với tình yêu làng và lòng yêu nước sâu sắc, tha thiết.

Sinh ra và lớn lên ở một làng quê Việt Nam, giữa những người nông dân chất phác, nhà văn Kim Lân đã sớm gắn bó và thấu hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, sáng tác nhiều tác phẩm về đề tài này. Trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, khi nhân dân miền Bắc được lệnh tản cư, ông đã một lần nữa khắc họa hình ảnh người nông dân trong truyện ngắn “Làng” không phải ở chuyện đời thường mà ở chuyện tình thân. làng quê, đất nước của những con người chân lấm tay bùn. Tác phẩm được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, đánh dấu sự chuyển biến tích cực về hình ảnh người nông dân và cách nhìn nhận của họ, đặc biệt qua nhân vật ông Hai.

Nét nhân cách đầu tiên và dễ nhận thấy nhất ở ông Hai là tình yêu làng tha thiết. Đối với nông dân, một ngôi làng không chỉ là một đơn vị hành chính và địa lý. Nó chứa đựng cuộc sống của họ, tất cả những gì gần gũi và thân thương với họ. Ngôi làng là quê hương, là cuộc sống của họ. Anh Hai cũng vậy, anh ấy có khuynh hướng khoe làng với tất cả sự tự hào của mình. “Anh ấy nói về làng với sự đam mê và nhiệt tình phi thường. Mắt anh ấy sáng lên, khuôn mặt anh ấy chuyển sang hoạt động. Tình yêu làng quê đã biến ông Hai thành một con người hoàn toàn khác chứ không phải là một ông Hai bị giam hãm và giam hãm trong căn bếp dời chỗ. Một nguồn năng lượng mới dường như dồi dào trong anh lúc đó. Đêm đêm, ông nói đi kể lại về ngôi làng của mình. Kim Lân mở rộng câu chuyện bằng cách trách bác hàng xóm không nghe chuyện, nhưng thực chất là để cho ta thấy ông Hai không cần chú Thu nghe, ông tự nói, nói cho vui. và cũng để thỏa nỗi nhớ làng. “Ông lại nghĩ đến làng mình, nghĩ đến những ngày cùng anh em lao động. […] nó muốn về làng, muốn được cùng anh em đào đường, đắp đê, xẻ rãnh, khuân vác đá.” Những kỉ niệm về làng cũ, xóm cũ trở thành niềm an ủi, động viên cho Ông Hai những lúc suy sụp, chỉ cần được ở lại làng cùng anh em chiến đấu, trong ông như có một luồng sinh lực mới dồi dào, bao nhiêu khó khăn, gian khổ, hiểm nguy bao nhiêu ông cũng chịu đựng được với hình ảnh ấy. lại hoàn toàn trái ngược với ông Hai, người luôn buồn chán, thất vọng và không biết làm gì trong căn bếp đã dọn đi, nhưng đó chỉ là một kỷ niệm, một kỷ niệm vui và tự hào đến nỗi mỗi khi nhắc lại, ông lại bâng khuâng. nỗi nhớ da diết trào dâng trong ông: “Ông Hai nhớ làng, nhớ làng da diết” Với ông, làng quê vốn dĩ đã là một cái gì đó rất thiêng liêng và đẹp đẽ. niềm khát khao, khao khát mãnh liệt, điều đó không ngoa chút nào, lời bộc bạch của ông Hai là của một người gắn bó tha thiết với làng, yêu làng bằng một niềm tự hào chân chính.

phan tich nhan vat ong hai

Bài viết hay Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng tốt

Tình yêu làng của ông Hai được thể hiện nổi bật và đậm nét nhất khi nghe tin làng mình theo Tây. Như một tiếng sét đánh ngang tai, anh không tin vào điều đó. “Cổ ông lão co quắp, mặt tê tái. Ông già im lặng, như không thở được. Một lúc sau, anh ta rặn ra, nuốt phải một cái gì đó mắc trong cổ." Nếu tin xấu là ngôi làng xinh đẹp của anh ta bị đốt phá, nhà cửa và ruộng đất của anh ta bị cướp, thì có lẽ anh ta đã không đau khổ như cái tin mà anh ta đã nhận được. Làng đã theo Tây, ông già nghèo vui vẻ giờ phải “cúi đầu đi thẳng”, “nước mắt cứ ứa ra” Nếu ông không yêu làng đến thế, không tự hào về làng đến thế , anh sẽ không cảm thấy nhục nhã như vậy. Câu nói "cả làng, người Việt theo Tây" như hằn sâu trong tim anh, trong niềm tự hào về làng quê mà anh vô cùng yêu quý. Tất cả những gì anh trân trọng trong lòng giờ dường như Anh không thể chấp nhận sự thật đó và đấu tranh nội tâm dữ dội. Lúc đầu còn nghi ngờ (“Nhưng làm thế nào mà những tin tức đó lại xuất hiện?”), nhưng sau đó thì đau đớn khi biết bằng chứng rõ ràng (“Và thủ lĩnh là người làng không sai” ) Phải thừa nhận tin đó, không thể nào diễn tả được nỗi đau của anh lúc đó. "Ái chà! Nhục nhã vô cùng, cả làng Việt Nam ơi!” Có lẽ trong đời ông Hai chưa bao giờ phải chịu đựng hay thậm chí không thể tưởng tượng nổi một nỗi đau đớn, nhục nhã đến thế. cảm thấy xót xa, tủi nhục lúc bấy giờ, nhưng ông Hai không chỉ đau cho mình, đau cho làng mà ông còn đau cho những người đồng bào cùng cảnh ngộ. Không biết họ đã hiểu ra vấn đề này chưa?” Có thể những người đó đã có ác cảm với ông từ trước, nhưng trước nỗi đau và tủi nhục quá lớn này, tình yêu làng đã trỗi dậy rất mạnh mẽ và đánh thức tình đồng bào trong ông. Kim Lân rất tài tình khi sử dụng hàng loạt câu kể, câu nghi vấn nối tiếp nhau bằng nghệ thuật độc thoại nội tâm để diễn tả nỗi đau đớn, tủi hờn, uất hận mà ông Hai phải chịu đựng, làng quê lúc này không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà còn là cái gì đó to lớn hơn, là lòng tự trọng, là danh dự.

Không những thế, tình yêu làng còn trở thành nỗi ám ảnh day dứt trong ông, buộc ông phải lựa chọn giữa làng và nước. Nếu trước đây anh tự hào, nói nhiều về làng mình thì nay anh xấu hổ, giấu giếm nhiều lắm. Lời đồn ác độc đó trở thành nỗi ám ảnh, nỗi sợ hãi vô hình luôn đè nặng tâm trí anh. “Một đám đông tụ tập, anh cũng để ý, xa xa vài tiếng cười nói, anh cũng ngập ngừng. Lúc nào anh cũng ấp úng như thể người ta đang chú ý, người ta đang bàn tán về “chuyện ấy”. Mỗi lần nghe tiếng Tây, tiếng Việt, sang chảnh... anh lại chui vào một góc nhà, nín thở. Đừng nói lung tung nữa!". Thông thường, khi người ta suy nghĩ quá nhiều về một điều gì đó, chúng ta luôn có ấn tượng rằng những người khác cũng vậy. Thế thì nỗi ám ảnh và sợ hãi của Hải phải lớn đến mức nào mới khiến anh dày vò như vậy! Tình yêu của Hải dành cho anh phải lớn đến nhường nào! làng be!Kim Lân đã miêu tả tâm trạng nặng nề ấy rất cụ thể và sâu sắc, bởi chính tác giả cũng đã gặp phải hoàn cảnh tương tự, ông Hai đã trải qua những giây phút đau đớn, tủi hổ hơn khi bị bà chủ nhà đuổi đánh.Người đọc dường như cảm nhận được từng lời nói ấy như xoáy sâu vào tình yêu làng vốn đã quá đau đớn của ông, dù đã quyết định đi theo kháng chiến nhưng ông vẫn không sao dứt bỏ được tình cảm sâu nặng với làng, chính vì thế ông càng buồn và xấu hổ.

Bên cạnh tình yêu làng, nhân vật ông Hai còn để lại dấu ấn trong mắt người đọc bằng tấm lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến. Ông luôn theo sát tin tức về cuộc kháng chiến và tự hào về những chiến công mà nhân dân ta đã làm được. "Lão gia tử nhảy múa, vui quá!" Nhưng đến lúc phải lựa chọn giữa làng và nước, tình yêu ấy mới thể hiện rõ ràng. Dù bị dồn đến đường cùng bởi tin đồn làng theo Tây “đường sống” nhưng ông vẫn không chịu về làng. Đến lúc này, chúng ta mới hiểu rõ được người hay sự việc tưởng chừng như đơn giản và dễ hiểu. Tình yêu làng giờ đã trở thành tình yêu có ý thức, bao trùm và yêu nước. “Quay trở lại ngôi làng đó. Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ.” Nhớ lại những ngày bị áp bức đen tối năm xưa, ông đã có một quyết định sáng suốt và đúng đắn. Là một nông dân chân lấm tay bùn, ông Hai có ý thức cách mạng rất rõ ràng: “Làng yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi nó phải thù”. Nhận thức rất mới này là nét đặc sắc trong tính cách ông Hai, đánh dấu sự thay đổi của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám. Anh ấy luôn muốn bày tỏ tình cảm của mình. Mặc dù nói chuyện với đứa trẻ, nhưng thực ra anh ta đang mượn lời nói của đứa trẻ để bày tỏ tình cảm của mình. Những gì đứa trẻ nói là những gì trào dâng trong lòng mà không thể nói ra. "Vâng, đúng vậy, ủng hộ Bác Hồ." Ông Hai nói với con như nói với anh em, để minh oan cho tấm lòng chân thành của mình, để nỗi đau trong lòng ông vơi đi phần nào. Lòng yêu nước của ông giản dị nhưng vô cùng chân thành, sâu sắc và cảm động. Chính điều đó đã giúp ông chịu đựng được những lời đồn thổi ác ý về làng mình, bởi ông có niềm tin vào cách mạng, vào cuộc kháng chiến. Từ đây, ông Hải nói riêng hay những người nông dân nói chung đã nhìn ra một cái nhìn rộng hơn, xa hơn về lũy tre làng. Không chỉ yêu làng, ông còn có một tình yêu lớn hơn gấp nhiều lần - tình yêu nước.

Cho đến khi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, tình yêu làng, yêu nước của ông Hai mới được tô vẽ hoàn toàn. Anh Hai như sống lại. “Khuôn mặt buồn bã ngày nào bỗng trở nên tươi tỉnh, rạng rỡ”. Một lần nữa tình yêu làng, yêu nước của ông được thể hiện một cách chân thực và cảm động. Nghị lực sống ngày nào đã trở lại với anh. Anh Hai là anh Hai cũ. Ông lại nói về làng mình, về “Tây nó đốt nhà tôi, đốt hết rồi!”. Niềm vui của anh được thể hiện một cách hồn nhiên, chân thật và rất mãnh liệt. Có lẽ trên đời chẳng ai đi khoe khoang, ăn mừng đốt nhà mình như vậy. Nhưng với ông Hải, đó chẳng là gì so với niềm vui khi tiếng tăm làng quê được rửa sạch. Bởi sự mất mát ấy cũng chính là sự hồi sinh của một làng Chợ Dầu mà ông hằng yêu quý và xứng đáng: làng Chợ Dầu kháng chiến. Tình yêu làng là cơ sở, là biểu hiện hùng hồn nhất của lòng yêu nước ở ông Hai. Đúng như nhà văn Ilia Erenbua đã từng nói: “Tình yêu quê hương, yêu làng, yêu quê làm nên tình yêu đất nước”. So với lão Hạc của Nam Cao hay chị Dậu của Ngô Tất Tố trước Cách mạng tháng Tám - những người nông dân suốt đời gắn bó với ruộng vườn, nhân vật ông Hai có nhận thức rõ ràng hơn về cách mạng. về sức đề kháng. Ông nhận thấy rằng: Nước còn thì làng còn, nước mất thì làng cũng chết. Đây không chỉ là sự thay đổi trong suy nghĩ của người nông dân, mà còn là suy nghĩ của mỗi người Việt Nam lúc bấy giờ. Họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng, nhỏ bé của mình vì sự nghiệp chung, vì cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Họ không bao giờ quên nguồn gốc của mình, mà giữ nơi đó trong trái tim của họ, biến nó thành lực lượng chiến đấu để giải phóng đất nước và quê hương.

Truyện ngắn "Làng" đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai, đặc biệt qua tình huống làng Chợ Dầu bị đồn theo Tây. Nguyễn Minh Châu từng nói: “Hoàn cảnh là một loại sự kiện đặc biệt của đời sống, được tạo ra theo hướng cái lạ. Ở đó, vẻ đẹp của nhân vật được bộc lộ rõ ​​nét, ý nghĩa tư tưởng được bộc lộ trọn vẹn". nhận thức, tình cảm và trên hết là tình yêu làng quê, đất nước... Nhà văn cũng vô cùng thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, có khi miêu tả hành động, có khi là độc thoại nội tâm, độc thoại, đối thoại để miêu tả tính cách nhân vật. Ngôn ngữ kể chuyện rất linh hoạt, tự nhiên, có lúc dễ dàng, có lúc đột ngột tùy theo diễn biến, bên cạnh đó tác giả đã quen với cuộc sống nông thôn nên ngôn ngữ của ông Hai mang tính khẩu ngữ, rất giản dị và gần gũi, đậm chất nông dân. Anh Hai ơi, Kim Lân thật xứng đáng là “cáo quý chứ không phải cáo quý”.

Nguyễn Đình Thi từng viết: “Mọi tác phẩm nghệ thuật đều được xây dựng bằng những chất liệu vay mượn từ hiện thực. Nhưng người nghệ sĩ không chỉ ghi lại những gì đã có mà còn muốn nói lên những điều mới mẻ. Ông đã gửi vào tác phẩm một bức thư, một lời nhắn nhủ, ông muốn đem một phần của mình để đóng góp cho cuộc sống xung quanh.” Truyện ngắn “Làng” được viết nên từ những trải nghiệm của nhà văn, miêu tả một cách chân thực nhất những ngày tản cư của người dân miền Bắc trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp cũng như những đổi thay Thông qua nghệ thuật xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm lí, ngôn ngữ nhân vật, Kim Lân đã mang đến cho người đọc nhân vật ông Hai với tình yêu thương đối với quê và tình.nước sâu nặng, tha thiết.

-------HẾT------

Tìm hiểu nội dung trước Phân tích tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng cũng như tham khảo Phân tích nhân vật ông Hai để chuẩn bị tốt cho tiết học này.


Xem thêm: trên thanh nam châm chỗ nào hút sắt mạnh nhất